Hỗ trợ trực tuyến
Quảng cáo
Liên kết
Thông tin
Sản phẩm

Tinh Dầu Ngò Ôm - Ngổ - Ngò Om

Giá bán: Cung Cấp Số Lương Lớn!!!

 

Tnh Dầu Ngò Ôm - Tinh Dầu Ngò om

Giá bán: 150.000/10ml

Lượng lớn Liên hệ: 0902862799, info@vinatinhdau.com.vn

Ngổ, ngò om hay ngò ôm

Danh pháp khoa học: Limnophila aromatica

Là một loại rau gia vị sống tại vùng khí hậu nhiệt đới thuộc họ Mã đề. Các tỉnh miền Nam gọi là rau om hay rau ôm. Tại các tỉnh miền Trung, rau này còn được gọi là ngổ hương. Các tên gọi khác ngổ thơm, ngổ om, ngò om hoặc ngổ điếc.

 

 

 

Cung Cấp Tinh dầu rau Ngò Om số lượng lớn, liên hệ: 0902862799

 

Sử dụng trong ẩm thực

Ngổ có một hương vị nằm giữa chanh và thì là. Trong ẩm thực Việt Nam, rau này được sử dụng thường xuyên nhất để nấu canh chua kiểu miền Nam, đôi khi dùng kèm với phở Sài Gòn hoặc để ướp thịt, nấu lẩu. Ở miền Bắc, ngổ và rau răm là hai loài rau gia vị không thể thiếu cho món chân giò giả cầy.

Y học cổ truyền

Trong y học cổ truyền, ngò ôm được dùng để chữa trị sạn thận (sỏi đường tiết niệu), làm thuốc lợi tiểu, chữa những cơn đau thắt bụng. Có thể dùng tươi hoặc phơi sấy khô làm thuốc. Một số nghiên cứu dược học tại Việt Nam cho thấy ngổ có độc tính không đáng kể và độ sử dụng an toàn khá cao, có tác dụng lợi tiểu, giãn cơ, chống co thắt. Tác dụng giãn cơ giải thích thuốc làm mất cơn đau bụng, giãn mạch, tăng lọc cầu ở thận, tăng lượng nước tiểu làm cho viên sỏi bị đẩy ra ngoài, bệnh nhân có thể tiểu ra những viên sỏi nhỏ.

Để trị rắn cắn, có thể lấy rau ngổ tươi rửa sạch, giã nát, lấy nước bôi và rửa vết thương, sau đó dùng bã đắp vào chỗ rắn cắn.


Rau ngổ thường mọc hoang ở ruộng nước, vũng lầy và rất dễ trồng; vị chua cay, hơi se, tính mát, thơm. Nó có tác dụng tiêu viêm, lợi tiểu, chống độc, làm giãn cơ ruột, giãn mạch, tăng lọc ở cầu thận nên thường được sử dụng để trị sỏi thận, đái ra máu, chữa băng huyết. Rau có tính giải độc, tiêu viêm nên được dùng để chữa trị rắn cắn, trị bệnh ngoài da.

Các bài thuốc:

- Rau ngổ 20-30 g, giã nát, cho thêm nước sôi nguội, chắt lấy nước uống hằng ngày để trị sỏi thận:

- Rau ngổ khô 20-40 g sao vàng, sắc lấy nước uống 4-5 ngày liền, dành cho người bị rắn cắn.

- Rau ngổ tươi 15-20 g, kiến cò 25 g, giã nát, cho thêm 20-30 ml rượu trắng, chắt lấy nước uống để chữa rắn cắn, còn bã đắp lên vết thương.

- Rau ngổ 15-30 g sắc lấy nước uống hằng ngày để trị sổ mũi, ho.

- Rau ngổ tươi giã nát, chắt lấy nước cốt bôi lên tổn thương herpes mảng tròn (hoặc bệnh ngoài da); kết hợp nấu nước rau ngổ để rửa hằng ngày.

BS. Minh Ngọc, Sức Khỏe & Đời Sống


Rau ngổ có những công dụng sau:

+ Trị nhiễm độc thức ăn, dị ứng các thức ăn do chất tanh, lạnh: dùng ngổ tươi từ 40 gr - 80 gr rửa sạch, ăn sống.

+ Trị rắn cắn: Dùng cả thân và lá ngổ tươi (từ 40 gr - 80 gr) sắc uống hoặc nhai nhuyễn, uống nước, còn xác thì đắp lên chỗ vết cắn.

+ Trị lở ngứa, sần da: Lấy lá và ngọn ngổ tươi giã nát rồi đắp lên chỗ ngứa sẽ khỏi

Lưu ý: Ngổ, ngò om hay ngò ôm (danh pháp khoa học: Limnophila aromatica)[1] là một loại rau gia vị sống tại vùng khí hậu nhiệt đới thuộc họ Mã đề. Các tỉnh miền Nam gọi là rau om hay rau ôm. Tại các tỉnh miền Trung, rau này còn được gọi là ngổ hương. Các tên gọi khác ngổ thơm, ngổ om, mò om hoặc ngổ điếc.

Ngổ là cây thân thảo, mọc bò, thân rỗng giòn, dài 20 - 30cm, có nhiều lông, mùi rất thơm, lá nhẵn, mọc đối, không cuống, hơi ôm thân. Phần lá gần thân nhỏ lại, mép hơi có răng cưa thưa. Hoa gần như không cuống mọc đơn độc ở nách lá. Quả nang nhẵn, có bướu và nếp nhăn dọc theo quả, ngắn hơn lá đài. Hạt nhẵn hình trụ có màu đen nhạt, có vân mạng.

Ngổ có một hương vị nằm giữa chanh và thì là. Trong ẩm thực Việt Nam, rau này được sử dụng thường xuyên nhất để nấu canh chua kiểu miền Nam, đôi khi dùng kèm với phở Sài Gòn hoặc để ướp thịt, nấu lẩu [3]. Ở miền Bắc, ngổ và rau răm là hai loài rau gia vị không thể thiếu cho món chân giò giả cầy.

Ngổ dễ bị lẫn với ngổ trâu (Enhydra fluctuans Lour.) mà miền Nam gọi là rau ngổ hay ngổ cộng thuộc họ Cúc (Compositae), là loại cây sống nổi hay ngập nước.

Ngổ trâu mọc dưới nước, sống nổi hoặc ngập nước, phân cành nhiều, có mắt. Lá dài, không cuống, mọc đối hay từng ba cái một; phiến hẹp, nhọn, bìa có răng thưa. Thân dài hàng mét, thân hình trụ nhẵn không lông, phân cành nhiều, có mắt, không lông. Lá ngổ trâu mọc đối, không cuống, phía dưới ôm vào thân, mép có răng cưa, dài khoảng 5 cm, rộng 6-10 mm. Cụm hoa hình đầu, không cuống, hoa mọc ở nách lá, hay ngọn, có màu trắng hoặc lục nhạt; 4 lá bắc hình trái xoan. Toàn hoa ống, hoa ngoài là hoa cái hình thìa lìa, có tràng và chia 3 thùy, hoa trong lưỡng tính, hình ống có tràng hoa xẻ 5 răng. Nhị 5, bao phấn có tai nhọn và ngắn. Bầu hình trụ cong. Quả bế không mào lông.

Ngổ trâu mọc nhiều ở các ao hồ tại Việt Nam. Ngoài ra còn thấy có ở Ấn Độ, Indonesia, Thái Lan, Trung Quốc.

Ngổ trâu dễ bị lẫn với ngổ (Limnophila aromatica) mà miền Nam gọi là ngò om.[3] So với ngò om, thân ngổ trâu to cao hơn, mùi ít hăng hơn, ít tinh dầu hơn. Ngổ trâu không dùng làm gia vị kèm theo rau mùi, húng quế trong các món canh chua như ngò om mà dùng để xào với thịt bò hay tép, ăn kèm mắm kho, lươn um, giống như dùng rau muống tàu ăn với vịt nấu chao vậy.

Discover the world of flavours

Why do we add flavourings to foods?

There are two main reasons:

Firstly, to add an intrinsic flavour - an example being flavoured mineral water with citrus extracts. The second reason is to add a flavour which has been lost or modified during processing. This can be seen in yogurt which contains fruit flavour.

Users of food flavourings include industrial food manufacturers, artisan food manufacturers and home cooks.

The use of flavourings is only authorised under specific regulatory conditions fixed by the respective manufacturing branch.

Food flavourings are also used in various oral pharmaceutical drugs to facilitate their ingestion.


Work of the flavourist

The flavourist's role is to combine different flavouring agents to obtain the final intended flavour. The flavourist's work involves several steps.

Firstly, he or she identifies the dominant substances which determine the characteristic flavour. From these substances, the flavourist then creates a flavouring, which tends to have a more simplistic structure than the natural original but at the same time complies with the natural flavouring profile. Depending on the food matrix, flavours perform differently. As regards the flavour release, there is, for example, a significant difference between a 1.5% custard and a 3,5% fat custard.

If the flavourist and food manufacturer are satisfied with the taste, focus groups are set up to taste the product. It is only after this step is successfully completed, that the product has a chance to be launched.

General explanations on flavour categories / products

Flavourings may contain flavouring substances, flavouring preparations, process flavourings, smoke flavourings and other flavourings. The different flavour categories are detailed below:

Flavouring substances - natural or synthetic

Flavouring substances are chemically defined substances with flavouring properties. To-date, some 10,000 flavouring substances have been identified in nature. The flavouring industry uses about 2,500 of these substances. Among these substances there are so-called “major” substances, such as citral which tastes of lemon or menthol which gives a peppermint taste, which are used in a myriad of food types.

Depending on the manufacturing process flavourings are divided into two major groups:

1. Natural flavouring substances;
2. Synthetically produced flavouring substances.

1. Producing natural flavouring substances

The flavouring substances, which are naturally present in plant and animal source materials, must be isolated for example via extraction or distillation - processes where specific substances are separated from a natural mixture.

Extraction process

A typical extraction process can be seen in coffee preparation. This process involves hot water separating the flavouring substances and flushing them out of the coffee powder. The filter then separates the soluble coffee components from the powder.

The same principle of extraction is applied when deriving vanilla extract from vanilla beans. Alcohol or supercritical carbon dioxide (CO2) are used as solvents.

Distillation process

Human beings have in fact been distilling alcohol for thousands of years. During distillation, liquid mixtures are separated by heating. The technique is based on the fact that many substances have different boiling points.

The distillation process sees the plant or animal source material being brought to a certain, pre-determined boiling point. The steam is collected by cooling. In flavouring production distillation is, for instance used, to produce natural citral from lemon grass oil.

Biotechnological production processes

In the case of source materials not being available in quantities necessary to produce a flavouring substance or if the production is too complex and expensive, natural flavourings can also be produced by biotechnological techniques. These techniques see the flavouring substances being produced by micro-organisms such as acetic acid bacteria or enzymes acting as biocatalysts.

Biotechnology has been used for generations in the production of foods such as cheese or sauerkraut. During the fermentation of white cabbage or maturation of cheese, lactic acid bacteria are busy at work. In addition, the presence of diverse yeasts is essential for bread, beer and wine production. In a maturing banana, for example, carbohydrates and proteins are produced biochemically and at the same time other biochemical processes occur that lead to the development of the flavouring substances typical in a banana. As soon as a banana turns golden yellow, its standard flavour that we all know, becomes apparent.

Today, it's hard to imagine food production without biotechnological processes. These enable vitamins and acids, as well as many flavouring substances to be produced. Such flavouring substances match the original flavouring substances contained in the foodstuffs. In biotechnical production, flavouring manufacturers use specific microorganisms and fungi suitable for food. Increasingly, isolated and purified enzymes are used instead of microorganisms.

After the biotechnological production of a flavouring substance, the isolation of the substance by either extraction or distillation takes place.


2. Synthetic flavouring substances

Experts distinguish nature-identical and artificial flavouring substances both being produced by chemical methods. However, nature-identical flavouring substances have the same chemical formula as their natural model. This is not the case for artificial flavouring substances.

The classification between nature-identical and artificial flavouring substances will become obsolete with the application of the new EC Flavouring Regulation on 20th January 2011. Under the new Regulation both flavouring substances groups will be subsumed under the category of “flavouring substances” with no further distinction being made between them.

Nature-identical flavouring substances are isolated from raw materials by chemical methods or are produced synthetically. For example, vanillin, the main component of vanilla beans, can be produced as a natural or a nature-identical flavouring substance. Nature-identical means that nature-identical flavouring substances are “born” in a laboratory but that their chemical structures are identical to the substances present in natural products. A substance can only be named as nature-identical if it naturally occurs in plant or animal raw materials. For example, the molecular structure and the smell or flavour of natural citral which can be distilled from lemon grass oil, and of nature-identical citral which is chemically synthesized, do not differ. Only the production methods are different, and the substances are obtained from different source materials.

By contrast artificial flavouring substances have no equivalent in nature. A well-known artificial flavouring substance is ethyl vanillin which smells and tastes like vanillin yet is roughly three times more taste-intensive. As flavouring, ethyl vanillin is normally added to products such as ice cream, confectionery and bakery wares.

Other flavouring categories

Flavouring preparations

Flavouring preparations are not chemically defined substances but complex mixtures whose composition is defined by natural raw materials. Well known examples are vegetable and fruit extracts, spice and herb extracts and yeast extract. As is the case with natural flavouring substances, flavouring preparations are obtained from plant, animal or microbiological source materials by means of physical or biotechnological production processes. Flavouring preparations are often the main component of citrus, spice and mint flavourings, reflecting their characteristic smell and taste.

This category also includes essential oils, such as clove and eucalyptus oil. The oils are obtained from plants, such as spices, herbs, fruit or blossoms, and represent the odoriferous and/or tasty “essence” of the plant. All plant parts which contain essential oils can serve as source material.

Thermal Process Flavourings

Thermal process flavourings are industrially produced by the controlled heating of several components (eg. by a Maillard reaction). During the process, intense flavours develop, as is the case when roasting meat or baking bread. The flavouring itself only develops as a result of the thermal process and the essential basic materials for their development include amino acids and also reducing sugars, such as dextrose (glucose). Thermal process flavourings develop in connection with heat.

These production processes are very similar to food preparation at home. A raw steak, for example, has hardly any taste. However, as soon as it is roasted or grilled, parts of the main components are transformed into flavourings under the influence of heat. These transformation processes also explain the large taste difference between a medium and a well-done steak.

Smoke flavourings

Smoking is one of the most ancient procedures to season and preserve foods. Smoke flavourings are not only used to preserve but to confer a special smoke flavour in foods such as fish and meat products, steak, sauces and chips.

Freshly produced smoke is obtained by means of controlled burning of hardwood at temperatures of up to 600°C. This happens mostly in the absence of air, and in many cases charcoal develops as a by-product. The smoke generated is condensed and for practical reasons, such smoke primary products can be mixed with solvents such as cooking oil or carriers such as table salt.

Sản phẩm khác

Tinh dầu Bạch Đàn Chanh

Tinh dầu Bạch Đàn Chanh  có hương thơm dễ chịu, dùng làm thuốc tẩy uế, thuốc sát khuẩn, chữa bệnh ngoài da, trị ghẻ lở, trị mụn, nám, tăng cường sức đề kháng. Ngoài ra, tinh dầu bạch đàn chanh còn dùng làm thuốc trị bỏng, làm thuốc gây long đờm trong trường hợp viêm phế quản mạn tính và hen.

Tinh dầu Tiêu Đen 100%

Tinh dầu Tiêu Đen 100% tự nhiên, VietNam  được chiết xuất từ trái tiêu đen có mùi cay, nồng ấm, có tác dụng giúp giữ ấm cơ thể, giảm sự lo lắng, điều trị cảm mạo, giúp dễ tiêu hóa , giảm đau nhức cơ, tăng sức đề kháng, giảm buồn nôn.Tinh dầu hạt tiêu đen có tác dụng điều trị cảm cúm, giảm sung huyết da, lưu thông máu, dễ tiêu, tốt cho người hay phải chịu đựng áp lực về tinh thần.

Tinh dầu Vỏ Quế Cinnamomum

Tinh dầu Quế có tác dụng bổ dưỡng, hồi sinh, diệt khuẩn, làm nóng, giảm đau, kích thích, chống nôn, giải độc cơ thể, được xem là một gia vị quý hiếm, dùng chữa cảm cúm rất công hiệu

Tinh dầu Phong Lữ nguyên chất

Đây là một loại tinh dầu rất tốt để chăm sóc tóc và điều trị các bệnh về da. Nó có khả năng giữ độ ẩm cho da và tóc, tẩy sạch da, giúp da bài tiết tốt hơn vì thế sẽ giúp giảm chứng viêm các tuyến nhờn trên da, khử trùng các vết thương, chống chứng sưng khớp. Nó cũng có ích trong việc chữa trị chàm bội nhiễm, giảm khô da đầu và gầu, chữa lành các vết thương nhỏ, giảm thiểu căng thẳng cho cơ thể

Tinh dầu Hồi - Star anise oil

Quả hồi chứa nhiều tinh dầu, nếu cất bằng phương pháp kéo hơi nước từ quả hồi tươi thì đạt hàm lượng 3-3,5%, tinh dầu lỏng, không màu hoặc màu vàng nhạt, có mùi thơm đặc biệt. Thành phần chủ yếu của tinh dầu hồi là anethol (80-90%); ngoài ra còn có a-pinen, d-pinen, l-phellandren, safrol, terpineol, limonen. Lá hồi cũng chứa tinh dầu nhưng độ đông đặc hơi thấp hơn. Hạt hồi không mùi, chỉ chứa dầu béo.

Tinh dầu Tràm gió

Cũng như Tràm, lá Tràm gió có vị cay, tính ấm, mùi thơm; có tác dụng làm ra mồ hôi, trừ thấp và giảm đau. Tinh dầu Tràm gió có tác dụng sát trùng mạnh đối với nhiều loại vi khuẩn gây bệnh.

Tinh dầu Bergamot - Cam Hương - Bergamot Oil

Bergamot giúp giảm sự căng thẳng hay do ngoại cảnh tác động vào nội tâm con người, nó làm dịu sự đau cơ bắp. Nó có tác dụng chống virut và kích thích hệ thống miễn dịch làm việc tốt hơn, rất có hiệu quả trong việc bài tiết.

Tinh dầu Cam

Mùi thơm ngọt ngào, quyến rũ của cam lưu lại rất lâu. Chính vì đặc điểm này, cam đang được các nhà hoá học đặc biệt quan tâm. Hương thơm mát dịu của loại quả này sẽ tác động mạnh đến khứu giác của bạn, gây phấn chấn và tạo cảm giác vô cùng thoải mái, sảng khoái.

Tinh Dầu Hương Thảo - Rosemary Essential oil

Nhỏ 10 giọt tinh dầu nguyên chất hương thảo vào bồn tắm và khi gội đầu, tinh dầu nguyên chất hương thảo giúp tinh thần sảng khoái vào buổi sáng làm phấn chấn tinh thần để có 1 ngày làm việc mới hiệu quả hơn

Tinh dầu Hoàng Đàn

Tinh dầu Hoàng Đàn rủ được chiết xuất từ những mãnh gỗ của cây Hoàng Đàn  cành rủ. Mang mùi hương gỗ nồng ấm êm dịu giúp giảm căng thẳng, kích thích nhẹ nhàng giúp sảng khoái, tạo cảm giác bình yên.Chống nhiễm khuẩn, tăng lực, lợi tiểu, khử trùng, làm thuốc an thần và thuốc diệt nấm.Được dùng để chăm sóc da chống gàu, chống nhăn và giảm mỡ dưới da. Ngoài ra mùi hương giúp xua đuổi côn trùng.

Tinh Dầu Đinh Hương

Tinh Dầu Sả Hồng - Palmarosa Oil

Tinh Dầu sả hồng palmarosa giúp dữ ẩm da, đồng thời giúp tái tạo tế bào da. Da mất cân bằng sản sinh ra dầu trên da là nguyên nhân cơ bản tổn thương da. Tinh dầu sả hồng còn có khả năng sát khuẩn nên có thể làm lành các vết tổn thương nhỏ trên da